Nguyên nhân và triệu chứng thời kỳ mãn kinh

Thứ Năm ,13/04/2017 15:24:10

Mãn kinh là thời kỳ bắt đầu sau kỳ kinh cuối cùng ở phụ nữ do buồng trứng giảm tiết estrogen nhiều tới mức nội mạc tử cung không còn được kích thích. Thời kỳ chuyển tiếp thường kéo dài khoảng 5–10 năm trước và sau khi mãn kinh, biểu hiện bằng một số thay đổi về tâm sinh lý ở phụ nữ.

Mãn kinh là thời kỳ bắt đầu sau kỳ kinh cuối cùng ở phụ nữ. Ở các nước phương Tây hội chứng này thường xuất hiện ở độ tuổi 51–52 và xảy ra sớm hơn ở những người hút thuốc. Hội chứng này xuất hiện do sự giảm sản sinh estrogen buồng trứng nhiều tới mức nội mạc tử cung không còn được kích thích và do đó không thể bong ra được. Estrogen được sản sinh ở các nang buồng trứng (các nang này hình thành từ thời kỳ bào thai và sau đó không được tái tạo). Khoảng 5–10 năm trước thời kỳ mãn kinh, các nang buồng trứng còn lại đã tiết ít estrogen hơn. Ở giai đoạn này, một số phụ nữ đã xuất hiện triệu chứng liên quan tới chứng kinh nguyệt không đều và gây tác động sớm lên tâm lý của họ.

Khoảng 50–75% phụ nữ có các triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật như những cơn bốc hỏa, vã mồ hôi trong thời kỳ mãn kinh gây mất ngủ, ngủ không ngon và giảm khả năng làm việc. Các triệu chứng này có thể nặng hơn ở những phụ nữ có chu kỳ kinh nguyệt không đều nhưng thường xuất hiện phổ biến sau kỳ kinh cuối cùng – hội chứng mãn kinh. Các triệu chứng xuất hiện do sự kém ổn định và thay đổi đột ngột mức điều chỉnh của vùng điều nhiệt cơ thể (nằm trên não) xuống mức thấp hơn, do vậy cơ thể cần giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt bằng cách vã mồ hôi. Sự kém ổn định của vùng điều nhiệt có thể do sự giảm tiết estrogen dẫn tới giảm tiết các chất trong não (như beta–endorphin, một chất giúp ổn định vùng điều nhiệt).

Trong một nghiên cứu tại Đức, tiến hành trên 500 nam giới và 153 phụ nữ cho thấy không có sự khác biệt giữa hai giới trong độ tuổi 50 liên quan tới các cơn vã mồ hôi. Cả hai giới đều có các cơn vã mồ hôi nhiều hơn so với những người trẻ tuổi, đặc biệt là các cơn vã mồ hôi đột ngột về đêm cũng như những cơn vã mồ hôi xuất hiện trong ngày. Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng, các cơn vã mồ hôi là xuất hiện do sự điều chỉnh nhiệt cơ thể thay đổi ở độ tuổi 50–55. Nghiên cứu cũng đặt ra câu hỏi về vai trò của estrogen đối với sự xuất hiện của các cơn vã mồ hôi ở phụ nữ mãn kinh. Các thay đổi tâm lý trong thời kỳ mãn kinh chủ yếu liên quan tới các triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật, chủ yếu là các rối loạn về giấc ngủ, giảm chất lượng cuộc sống và tăng tổn thương về tâm lý. Nồng độ estrogen suy giảm đã tác động trực tiếp tới tâm lý thông qua việc thay đổi sự hình thành các chất dẫn truyền tín hiệu trong não.

Sau mãn kinh, gần một nửa số phụ nữ có các triệu chứng giảm tiết dịch âm đạo như cảm giác đau khi giao hợp, nóng rát khi đi tiểu và tăng nguy cơ nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Các triệu chứng này thường nặng nhất trong khoảng một vài năm sau mãn kinh, khi nồng độ estrogen giảm thấp, vì dịch tiết âm đạo thường bị kích thích bởi nồng độ estrogen thấp. Khi nồng độ estrogen giảm hẳn, màng nhầy niêm mạc âm đạo trở nên mỏng, yếu và lượng máu cung cấp tới âm đạo cũng giảm. Chứng tiểu tiện không tự chủ thường gặp ở nữ nhiều hơn so với nam giới và có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Có nhiều loại tiểu tiện không tự chủ, phổ biến nhất là chứng tiểu tiện không tự chủ liên quan tới hoạt động gắng sức và do nhu cầu đột ngột cũng như dạng tiểu tiện không tự chủ phối hợp. Tiểu tiện không tự chủ liên quan tới hoạt động gắng sức là hiện tượng bài xuất nước tiểu không tự chủ khi hoạt động thể lực gắng sức, hắt hơi hoặc ho. Chứng tiểu tiện không tự chủ do nhu cầu đột ngột là do tăng áp lực đột ngột dẫn tới hiện tượng bài xuất nước tiểu không tự chủ. Tiểu tiện không tự chủ phối hợp là sự kết hợp của hai loại trên. Tỷ lệ mắc chứng tiểu tiện không tự chủ có ý nghĩa thống kê với mức độ “đôi khi” hay “ít nhất một lần trong 12 tháng qua” nằm trong khoảng từ 25 đến 45% trong hầu hết các nghiên cứu. Chứng tiểu tiện không tự chủ do hoạt động gắng sức phổ biến ở phụ nữ trẻ tuổi và trung niên trong khi chứng tiểu tiện không tự chủ do nhu cầu đột ngột hay chứng tiểu tiện không tự chủ phối hợp hay gặp hơn ở phụ nữ lớn tuổi, ở những phụ nữ vận động nhiều mà chưa trải qua sinh đẻ.

Từ lâu, hội chứng mãn kinh đã được cho là yếu tố quan trọng làm tăng chứng tiểu tiện không tự chủ, do teo cơ tầng sinh môn và các cơ liên quan dẫn tới niệu đạo đóng không chặt và tăng nguy cơ nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Nhiễm khuẩn đường tiết niệu có thể gây ra các rối loạn, khó khăn trong việc giữ nước tiểu (tiểu tiện nhiều lần và tiểu gấp). Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa chứng minh được sự thiếu hụt estrogen là nguyên nhân hay nguy cơ gây ra chứng tiểu tiện không tự chủ. Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc tiểu tiện không tự chủ thấp hơn ở những phụ nữ sau mãn kinh so với tiền mãn kinh và một số nghiên cứu cho thấy số phụ nữ mắc chứng tiểu tiện không tự chủ ở những người sử dụng estrogen cao hơn so với những người không sử dụng. Mặc dù chứng tiểu tiện không tự chủ có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng tỷ lệ cao hơn ở những phụ nữ tiền mãn kinh và bắt đầu mãn kinh.

Một rối loạn chức năng phổ biến khác ở vùng chậu hông là hiện tượng sa sinh dục, nghĩa là sự sa của một hay nhiều bộ phận sau: thành trước âm đạo, thành sau âm đạo, vòm âm đạo, một phần của tử cung. Tình trạng này trên lâm sàng có thể được xếp theo thang điểm từ 1 đến 4 và bình thường là mức độ 0. Sa tử cung – âm đạo thường xuất hiện và có tỷ lệ thống kê nằm trong khoảng từ 5 đến 94% tùy thuộc vào định nghĩa, dân số và hệ thống phân loại. Ước tính có tới 50% phụ nữ bị sa một bộ phận hoặc nhiều hơn sau khi sinh nở tự nhiên, tuy nhiên tỷ lệ dựa trên các triệu chứng thi thấp hơn (7–23%). Các triệu chứng bao gồm mệt mỏi, cảm giác nặng nề, khó chịu ở cơ quan sinh dục, cảm giác có gi đó như “đang rơi ra” và đôi khi gặp khó khăn trong việc tiểu hết hoặc tiểu tiện không tự chủ. Giống như chứng tiểu tiện không tự chủ, hiện tượng sa sinh dục có thể gây ra sự không thoải mái trong khi hoạt động thể lực và là yếu tố quan trọng làm giảm hoạt động thể lực ở phụ nữ.

Sự giảm sản sinh estrogen có liên quan tới các thay đổi ở một số hệ thống trong cơ thể bao gồm sự thúc đẩy quá trình mất xương và tăng nguy cơ loãng xương. Mô xương được tạo ra liên tục đồng thời với quá trình tiêu hủy xương ở những vùng khác của cơ thể. Các tế bào tạo xương và hủy xương hoạt động theo cơ chế cân bằng, nhưng khi nồng độ estrogen suy giảm, hoạt động của các tế bào hủy xương bắt đầu chiếm ưu thế. Do vậy, phụ nữ có thể bị loãng xương và có nguy cơ bị gãy xương do loãng xương, chủ yếu ở vùng cổ tay, cổ xương đùi và cột sống. Hơn nữa, estrogen có thể có tác động tích cực tới quá trình cân bằng này. Về mặt lý thuyết, khi nồng độ estrogen suy giảm, quá trình cân bằng này bị phá vỡ, nguy cơ ngã và nguy cơ gãy xương do loãng xương sẽ tăng. Các tác động này của estrogen có lẽ thông qua các chất ở tiểu não nơi kiểm soát quá trình cân bằng đó.

Estrogen cũng có các tác động tích cực đối với mỡ máu nhờ chuyển hóa ở gan. Estrogen có tác dụng giãn mạch trực tiếp và cũng có tác dụng làm giảm quá trình tích tụ các hạt mỡ ở thành mạch, làm chậm quá trình xơ vữa động mạch. Tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim ở những phụ nữ sau mãn kinh khi nồng độ estrogen bị suy giảm nhanh chóng.

Như vậy, có thể khẳng định nguyên nhân của sự thay đổi ở phụ nữ mãn kinh chính là do việc thiếu hụt hormone estrogen. Các triệu chứng thường gặp của thời kỳ này cũng đã được tổng hợp hết sức đầy đủ. Điều quan trọng là nhận biết sự thay đổi trong cơ thể mình để có sự điều chỉnh lối sống, thói quen sinh hoạt cho phù hợp, hạn chế tối đa tác động của thời kỳ mãn kinh đến công việc và cuộc sống.